Nghị định 04/2014/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ số 51/2010/NĐ-CP quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
NGHỊ
ĐỊNH
SỬA
ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 51/2010/NĐ-CP NGÀY 14 THÁNG
5 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ HÓA ĐƠN BÁN HÀNG HÓA, CUNG ỨNG
DỊCH VỤ
Căn
cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn
cứ Luật quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật quản lý thuế ngày 20 tháng 11 năm
2012;
Căn
cứ Luật kế toán ngày 17 tháng 6 năm 2003;
Căn
cứ Luật giao dịch điện tử ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn
cứ Luật thuế giá trị gia tăng ngày 03 tháng 6 năm 2008, Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng ngày 19 tháng 6
năm 2013;
Theo
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
Chính
phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về hóa
đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ,
Điều
1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày
14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa,
cung ứng dịch vụ như sau:
1.
Sửa đổi Khoản 1, Khoản 2 Điều 4 như sau:
“1.
Hóa đơn quy định tại Nghị định này gồm các loại sau:
b)
Hóa đơn giá trị gia tăng là hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ dành cho
các tổ chức khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu
trừ;
c)
Hóa đơn bán hàng là hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ dành cho các tổ
chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực
tiếp.
d)
Các loại hóa đơn khác, gồm: Vé, thẻ hoặc các chứng từ có tên gọi
khác nhưng có hình thức và nội dung quy định tại các Khoản 2, 3 Điều
này.
2.
Hóa đơn được thể hiện bằng các hình thức sau:
a)
Hóa đơn tự in là hóa đơn do các tổ chức kinh doanh tự in ra trên các
thiết bị tin học, máy tính tiền hoặc các loại máy khác khi bán hàng
hóa, dịch vụ;
b)
Hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán
hàng hóa, dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản
lý theo quy định tại Luật giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn
thi hành;
c)
Hóa đơn đặt in là hóa đơn do các tổ chức kinh doanh đặt in theo mẫu để
sử dụng cho hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, hoặc do cơ quan
thuế đặt in theo mẫu để cấp, bán cho các tổ chức, cá nhân.”
2.
Sửa đổi, bổ sung Điều 5 như sau:
“Điều
5. Nguyên tắc tạo và phát hành hóa đơn
1.
Tổ chức kinh doanh đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 6 và
Điều 7 Nghị định này được tự in hóa đơn hoặc khởi tạo hóa đơn điện
tử để sử dụng trong việc bán hàng hóa, dịch vụ.
2.
Tổ chức kinh doanh có mã số thuế nhưng không đủ điều kiện quy định
tại Khoản 1 Điều này phải đặt in hóa đơn để phục vụ cho hoạt động
bán hàng hóa, dịch vụ của bản thân tổ chức.
3.
Cơ quan thuế cấp tỉnh, thành phố (sau đây gọi tắt là Cục Thuế) đặt
in, phát hành hóa đơn để cấp, bán cho các tổ chức, cá nhân theo quy
định tại Điều 10 Nghị định này.
4.
Doanh nghiệp đủ điều kiện theo quy định tại Điều 22 Nghị định này
được nhận in hóa đơn cho các tổ chức khác.
5.
Tổ chức kinh doanh có thể đồng thời cùng lúc sử dụng nhiều hình
thức hóa đơn khác nhau. Nhà nước khuyến khích hình thức hóa đơn điện
tử.
6.
Tổ chức khi in hóa đơn không được in trùng số trong những hóa đơn có
cùng ký hiệu.
7.
Tổ chức trước khi sử dụng hóa đơn cho việc bán hàng hóa, dịch vụ
phải thông báo phát hành theo quy định tại Điều 11, Điều 12 Nghị định
này.”
3.
Sửa đổi Điều 6 như sau:
“Điều
6. Hóa đơn tự in
1.
Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật trong khu công
nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao; doanh nghiệp có
mức vốn điều lệ theo quy định của Bộ Tài chính; các đơn vị sự
nghiệp công lập có sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật
được tự in hóa đơn kể từ khi có mã số thuế.
2.
Tổ chức kinh doanh trừ các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này,
được tự in hóa đơn để sử dụng cho việc bán hàng hóa, dịch vụ nếu
có đủ các điều kiện sau:
a)
Đã được cấp mã số thuế;
b)
Có doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ;
c)
Không bị xử phạt về các hành vi vi phạm pháp luật về thuế theo mức
do Bộ Tài chính quy định trong 365 (ba trăm sáu mươi lăm) ngày liên tục
tính đến ngày thông báo phát hành hóa đơn tự in;
d)
Có hệ thống thiết bị đảm bảo cho việc in và lập hóa đơn khi bán
hàng hóa, dịch vụ;
đ)
Là đơn vị kế toán theo quy định của Luật kế toán và có phần mềm
bán hàng hóa, dịch vụ gắn liền với phần mềm kế toán, đảm bảo việc
in và lập hóa đơn chỉ được thực hiện khi nghiệp vụ kế toán phát
sinh;
e)
Có văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn tự in và được sự chấp thuận cơ
quan thuế. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan thuế quản lý trực
tiếp phải có ý kiến về việc đăng ký sử dụng hóa đơn tự in của doanh
nghiệp.
3.
Hóa đơn tự in đảm bảo nguyên tắc mỗi số hóa đơn chỉ được lập một
lần. Số lượng liên hóa đơn được in căn cứ vào yêu cầu sử dụng cụ thể
của nghiệp vụ bán hàng. Tổ chức có trách nhiệm tự quy định bằng văn
bản về số lượng liên hóa đơn.
4.
Đối với các doanh nghiệp vi phạm về quản lý, sử dụng hóa đơn; doanh
nghiệp có rủi ro cao về việc chấp hành pháp luật thuế. Bộ Tài chính
căn cứ quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật về công
nghệ thông tin thực hiện biện pháp giám sát, quản lý phù hợp nhằm
thực hiện đúng quy định của pháp luật về hóa đơn.
5.
Doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn tự in có hành vi vi phạm về hóa đơn
bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, gian lận thuế
hoặc doanh nghiệp thuộc loại rủi ro cao về thuế theo quy định tại Luật
quản lý thuế thì không được sử dụng hóa đơn tự in mà phải thực hiện
mua hóa đơn của cơ quan thuế có thời hạn theo quy định tại Khoản 2
Điều 10 Nghị định này. Thời điểm không được sử dụng hóa đơn tự in
được tính từ ngày Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi
trốn thuế, gian lận thuế có hiệu lực thi hành (đối với doanh nghiệp
có hành vi vi phạm về hóa đơn dẫn đến trốn thuế, gian lận thuế) hoặc
kể từ thời điểm cơ quan thuế yêu cầu (đối với doanh nghiệp thuộc loại
rủi ro cao về thuế). Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể quy định tại
khoản này.
6.
Bộ Tài chính quy định, hướng dẫn đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh
sử dụng máy tính tiền in hóa đơn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo
quy định của pháp luật về quản lý hóa đơn.”
4.
Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 8 như sau:
“2.
Tổ chức có hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có mã số thuế được đặt
in hóa đơn để sử dụng cho các hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, trừ hộ, cá nhân kinh doanh và các doanh nghiệp quy định tại Khoản
4, Khoản 5 Điều 6 Nghị định này.
Trước
khi đặt in hóa đơn lần đầu, tổ chức có hoạt động kinh doanh, doanh
nghiệp (trừ đối tượng đủ điều kiện được tạo hóa đơn đặt in) phải
gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp văn bản đăng ký sử dụng hóa
đơn đặt in. Trong thời hạn 5 ngày làm việc cơ quan thuế quản lý trực
tiếp phải có ý kiến về việc đăng ký sử dụng hóa đơn đặt in của
doanh nghiệp.
Doanh
nghiệp đang sử dụng hóa đơn đặt in có hành vi vi phạm về hóa đơn bị
xử lý vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, gian lận thuế hoặc
doanh nghiệp thuộc loại rủi ro cao về thuế theo quy định tại Luật quản
lý thuế thì không được sử dụng hóa đơn đặt in mà phải thực hiện mua
hóa đơn của cơ quan thuế có thời hạn theo quy định tại Khoản 2 Điều 10
Nghị định này. Thời điểm không được sử dụng hóa đơn đặt in được tính
từ ngày Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế,
gian lận thuế có hiệu lực thi hành (đối với doanh nghiệp có hành vi
vi phạm về hóa đơn dẫn đến trốn thuế, gian lận thuế) hoặc kể từ
thời điểm cơ quan thuế yêu cầu (đối với doanh nghiệp thuộc loại rủi ro
cao về thuế).”
5.
Sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 10 như sau:
“2.
Hóa đơn do các Cục Thuế đặt in được bán cho tổ chức không phải là
doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh, hộ gia đình, cá nhân kinh
doanh có cơ sở tại địa phương và các doanh nghiệp không được đặt in,
tự in hóa đơn quy định tại Khoản 4, Khoản 5 Điều 6, Khoản 2 Điều 8
Nghị định này. Các doanh nghiệp mua hóa đơn của cơ quan thuế trong thời
gian 12 tháng. Hết thời gian 12 tháng, nếu đáp ứng điều kiện tự in
hoặc đặt in hóa đơn, cơ quan thuế thông báo doanh nghiệp chuyển sang tự
tạo hóa đơn để sử dụng hoặc tiếp tục mua hóa đơn của cơ quan thuế
nếu không đáp ứng điều kiện tự in hoặc đặt in hóa đơn.”
6.
Sửa đổi Điều 22 như sau:
“Điều
22. Điều kiện và trách nhiệm của tổ chức nhận in hóa đơn, tổ chức
cung ứng phần mềm tự in hóa đơn
1.
Điều kiện và trách nhiệm của tổ chức nhận in hóa đơn:
a)
Điều kiện:
Tổ
chức nhận in hóa đơn phải là doanh nghiệp có Giấy phép hoạt động
ngành in.
b)
Trách nhiệm:
-
In hóa đơn theo đúng hợp đồng đã ký; không được giao lại toàn bộ hoặc
bất kỳ khâu nào trong quá trình in hóa đơn cho tổ chức in khác thực
hiện;
-
Quản lý, bảo quản và xử lý khuôn in, phôi in, hóa đơn đã in và các
hóa đơn in hỏng theo thỏa thuận giữa hai bên và theo quy định của pháp
luật;
-
Thanh lý hợp đồng in với tổ chức, cá nhân đặt in hóa đơn và tiến
hành xử lý khuôn in, phế phẩm theo quy định của Bộ Tài
chính;
-
Định kỳ 3 tháng, báo cáo việc nhận in hóa đơn gửi cơ quan thuế trực
tiếp quản lý.
2.
Điều kiện và trách nhiệm của tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa
đơn:
a)
Điều kiện:
Tổ
chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn phải là doanh nghiệp có giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh (giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp),
trong đó có ngành nghề lập trình máy vi tính hoặc xuất bản phần
mềm, trừ trường hợp tổ chức tự cung ứng phần mềm tự in hóa đơn để
sử dụng.
b)
Trách nhiệm:
-
Đảm bảo phần mềm tự in hóa đơn cung cấp cho một đơn vị tuân thủ đúng
những quy định về tự in hóa đơn; không cung cấp phần mềm in giả hóa
đơn trùng với các mẫu trong phần mềm đã cung cấp cho doanh nghiệp
khác.
-
Định kỳ 3 tháng, báo cáo về việc cung cấp phần mềm tự in hóa đơn cho
cơ quan thuế quản lý trực tiếp.”
Điều
2. Hiệu lực thi hành
1.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm
2014.
2.
Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định này.
3.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và
các tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định
này./